Thứ Bảy, 24 tháng 12, 2016

CÓ MỘT TÌNH YÊU TRONG THƠ NGUYỄN ĐÌNH ẢNH

Hồi còn đang đi học, và công tác ở xã, tôi đã đọc, đã mê thơ của nhà thơ Nguyễn Đình Ảnh rồi. Những bài thơ tình của anh, tôi và một số bạn bè học sinh thanh niên đã chuyền tay nhau chép. Choáng ngợp bởi khí phách của “Chào Đất Nước”, tự hào bởi những bài thơ về Đền Hùng, về Đất Tổ; say sưa với những bài thơ tình của anh. Và chính điều này đã dẫn dụ tôi chập chững bước vào con đường thi ca theo anh. Tập thơ “Hương bưởi” đầu tay và hai tập thơ “Trung du”, “Đất nhớ” tiếp theo của tôi ra đời có công lớn của nhà thơ Nguyễn Đình Ảnh và nhà viết kịch Trịnh Hoài Đức. Nhà viết kịch Trịnh Hoài Đức động viên, khích lệ tôi tập hợp các bài thơ đã viết để “ra tập”, để “làm chứng minh thư giới thiệu vào Hội”. Nhà thơ Nguyễn Đình Ảnh hồi đó là Chủ tịch Hội VHNT Vĩnh Phú là người biên tập, chỉnh sửa và giúp tôi ra sách. Chính hai ông cùng với họa sĩ Đỗ Ngọc Dũng - Chủ tịch Hội VHNT Phú Thọ sau này đã “dẫn lối”, “đưa đường” để tôi “bỏ thuyền, bỏ lái, bỏ cả dòng sông”, bỏ đường quan trường để đi làm văn nghệ. Từ Phó Ban Tuyên giáo huyện ủy, Trưởng Phòng Văn hóa Thông tin huyện, tôi “một nước” về Hội VHNT tỉnh giữ chân Phó Tổng biên tập tạp chí Văn nghệ Đất Tổ để được làm việc với nhà viết kịch Trịnh Hoài Đức và họa sĩ Đỗ Ngọc Dũng. Lúc này, nhà thơ Nguyễn Đình Ảnh đã nghỉ hưu.

          Môi trường công tác mới, vị trí mới, tôi được tiếp xúc, làm việc với các văn nghệ sĩ. Nhà thơ Nguyễn Đình Ảnh tuy nghỉ hưu vẫn tiếp tục bồi dưỡng, giúp đỡ tôi nhiều mặt, trong đó có thi ca. Sự khâm phục, mê hoặc thơ Nguyễn Đình Ảnh xưa được dịp cho tôi trải nghiệm, thấm nhuần, học tập và tiếp thêm nguồn cảm hứng thẩm định và sáng tạo.
          Hồi trước, tôi đã chép tay và thuộc bài thơ “Ngày ấy bây giờ” thì đúng bây giờ tôi được gặp và làm việc cùng tác giả. Tiếp xúc trực tiếp mới thấy Nguyễn Đình Ảnh hiền khô, chín chắn, cẩn trọng nhất là trong từng từ ngữ, dấu câu. Tuần vài lần anh lọ mọ đến cơ quan cũ. Dáng anh gầy, đôi mắt tinh anh, bộ lông mày rậm, cái mũ phớt, hút thuốc lào và giọng nói nhỏ nhẹ, khiêm nhường trong các cuộc vui, đông người thì tôi chẳng thể nào quên được.
          Dạo đi học, biết nhà thơ là chiến sĩ pháo binh, có nhiều bài thơ tình về người giáo viên, tôi cứ liên tưởng với ca khúc “Hành khúc ngày và đêm” để rồi mỗi khi đọc thơ anh, tôi lại lẩm nhẩm hát bài này. “Rất dài và rất xa, là những ngày thương nhớ. Nơi cháy lên ngọn lửa, là trái tim thương yêu, là trai tim yêu thương...”. Những bài thơ tình của Nguyễn Đình Ảnh chẳng biết viết cho người con gái nào cũng chứa chất nỗi niềm như thế. Đến đoạn:
“Anh đang mùa hành quân pháo lăn dài chiến dịch
Bồi hồi đêm xuất kích chờ nghe tiếng pháo ran.
Ngôi sao như mắt anh trong những đêm không ngủ.
Giáo án em vẫn mở cho ánh sao bay vào.

Ngày và đêm xa nhau đâu chỉ dài và nhớ,
Thời gian trong cách trở đốt cháy lửa tình yêu.
Pháo anh lên đồi cao nã vào đầu giặc Mỹ,
Bục giảng dưới hầm sâu em cũng là chiến sĩ…”
Và khi biết người yêu của anh là chị Lan Thanh - giáo viên thì đích thị mối tình này cũng nằm trong ca khúc ấy. Về sau, được anh tặng cho một số tập thơ, tôi kiểm chứng lại những bài thơ tôi thường chép thì đúng là những bài thơ anh ghi tặng chị Lan Thanh và đúng như trong bài hát trên.
          Nguyễn Đình Ảnh làm khá nhiều thơ tình, nhất là những bài thơ tình dành riêng tặng cho chị Lan Thanh. Đọc những bài thơ ấy, tôi như thấy mình cũng có trong đó và cũng thầm ước được như anh. Thơ anh hình như cũng nói hộ lòng tôi vậy. Cái thuở đương yêu, tuy người yêu mình không phải là giáo viên mà sao tôi vẫn cứ thấy đồng cảm với nhà thơ. Chả thế mà mấy lần tôi đã mượn thơ anh, chép trộm để tặng bạn gái mới liều chứ. Hôm nay, trước vong linh anh, một lần nữa xin thú tội này cùng nhà thơ và xin điểm qua những cảm nhận của mình về một số bài thơ anh đã viết tặng chị Lan Thanh.
          Khi yêu nhau, ai cũng muốn gặp người yêu, muốn ở bên người yêu, nhất là đôi lứa ấy lại ở xa nhau. Hò hẹn, chờ đợi, ngóng trông và chỉ mong có thời gian lúc nào là lặn lội tìm nhau, là lao đến bên nhau và muốn ở mãi cùng nhau. Ai qua thời chiến chan, có người yêu ở xa mới hiểu, cảm thông và quý cho những giây phút này. Thì đây, Nguyễn Đình Ảnh lên thăm người yêu là chị Lan Thanh đang học ở trên Thái Nguyên, họ đã gặp nhau và gặp cả cơn mưa đột ngột. Phố ướt, đường ướt, ấy vậy mà anh đã:
“Tay cầm mãi một que kem
Không ăn, chỉ muốn nhìn em thôi mà
Giọt kem rơi lạnh trên da
Sao lòng lại ấm như là lửa nhen”
                          (Đêm Thái nguyên)
          Phải chăng, nhờ Tình yêu mà có những điều tưởng như nghịch lý lại có lý đến vậy? Que kem lạnh - lòng người ấm, không ăn - chỉ nhìn. Khổ thơ này cứ ám ảnh tôi mãi.
          Đợi chờ hò hẹn khi yêu nhau là một nỗi đợi chờ khắc khoải, “một ngày bằng mấy trăm năm hỡi người”. Nhà thơ Nguyễn Đình Ảnh trong một lần của năm 1971 đợi chị Lan Thanh cũng thế. “Có tàu - lại chẳng thấy em/ Ra về, đã quá nửa đêm mất rồi” để anh phải thốt lên, kêu lên một cặp sáu tám kết bài “Đợi…” thật nhoi nhói:
“Vẫn con đường nhựa ấy thôi
Sương rơi…buốt cả triền đồi…và anh
          “Buốt cả triền đồi” vì em không đến, vì nỗi đợi chờ thì thật quả là xa xót. Đọc mà thương. Thế mới biết anh yêu chị ấy tới nhường nào.
          Năm 1972, anh lại lên thăm chị ở Phú Lương, có lẽ không gặp nên mới có những câu thơ như thế này:
                   “Vắng bóng em, lùm cọ hóa âm thầm
                   Em tới lớp, ríu rít sau vòm lá
                   Rừng xanh nõn, có cái gì trẻ quá
                   Muốn reo lên mà chẳng nói lên lời

                   Anh đi qua, giờ học đã xong rồi
                   Anh tìm mãi chỗ em ngồi, chẳng thấy
                   Những chiếc lá gió thổi rơi trên mái
                   Nghe xa vời mà thương thế em ơi!”
                                                (Tạm biệt miền rừng)
          Khi chia tay chị Lan Thanh một trưa hè bên sông, đò đưa anh sang rồi mà lòng anh cứ mãi ngóng trông trở về tìm chị. Khi ấy, chị đã:
Lẫn vào màu cỏ ven đê
Áo em xanh suốt trưa hè bên sông…”
          Phải yêu nhau lắm thì mới có cái nhìn như thế. Lại những hình ảnh đối lập: trưa hè nắng chang chang và cỏ xanh và áo xanh của người yêu. Nắng nóng như thế, vậy mà với người yêu và màu xanh ấy nhà thơ vẫn cảm thấy dịu dàng thanh mát lạ. Xanh cả không gian (bên sông), xanh cả thời gian (suốt trưa hè), xanh như chính tên người yêu Lan Thanh nữa thì phải?
          Thời chiến tranh, những cuộc chia tay trên sân ga đã để lại bao lưu luyến, trở thành thơ, thành nhạc, thành nỗi niềm khắc khoải cho nhau. Nguyễn Đình Ảnh và Lan Thanh cũng thế. Có khá nhiều bài thơ nhà thơ viết trong bối cảnh này. Và đây là một trong số những bài thơ đó của anh - bài “Tâm tình sau lúc em đi”.
                   “ Có những sân ga đem niềm vui đi xa
                   Có những sân ga mang nỗi buồn trở lại
                   Đưa em đi buổi trưa hôm ấy
                   Anh trở về - lòng bâng khuâng khôn nguôi…”

                   “Chuyến tàu trưa đưa em về đâu?
                   Giờ, em đang ở nơi nào đấy?
                   Buổi trưa ấy - anh còn nhớ mãi
                   Một vết sẹo mờ trên ngón tay”
          Rõ ràng biết người yêu đi đâu rồi mà vẫn cứ hỏi con tàu, vẫn cứ muốn biết hiện ở em đang ở đâu. Đúng là chưa xa mà đã nhớ. Nhớ đến như thế cơ mà. Nhớ cả vết sẹo mờ trên ngón tay thì nhớ lắm chị Thanh ạ. Chả thế mà, anh ấy đã bần thần, đã thảng thốt viết toạc ra rằng: “Bây giờ, anh chỉ còn em thôi/ Là tất cả buồn vui - là duy nhất”.
          Bài thơ “Buổi tối ở Đại Từ” anh viết năm 1970 cho chị Lan Thanh cũng khá ám ảnh. Khung cảnh là một buổi tối anh đến thăm chị “Nột chiếc bàn gỗ mộc/ đĩa dưa và căn phòng/ giưa rừng đêm âm thầm/ niềm vui thành bát ngát/ Những giọt mưa nhảy nhót/ đùa nhau trên mái nhà/ một chiếc kim đồng hồ/ tự nhiên rơi xuống đất”. Lại mưa. Đúng là trời se duyên cho hai người nên mới thế. Mưa cũng nhảy nhót vui mừng khi hai người gặp nhau. Để rồi cái kim đồng hồ tự nhiên rơi, miếng dưa người yêu trao, cái nhìn nhìn bỡ ngỡ, cả ánh đèn dầu nữa… đã trở thành kỷ niệm, trở thành thơ trong anh. Khổ kết thật hay:
“Ánh đèn dầu buổi đó
Soi rõ những ngày sau
Không riêng gì anh đâu
Mà cả anh nữa đấy

Chao ôi! Cái buổi tối…”
          Lại có một lần chị Lan Thanh từ Thái Nguyên về Phù Lỗ đột ngột, khiên anh Nguyễn Đình Ảnh không ngờ tới bởi vì hai người ở xa nhau. Chiều đó “Giếng thì xa mà dốc lại cao/ lối qua đồi cọ nhiều sỏi đá/ thương từ Thái Nguyên đi, đường vất vả/ anh xách thùng lên cho em, cho em…”, “bao nhiêu thùng rồi, anh không nhớ nữa/ em gội vào vai có thấm đâu”. Thật đẹp những hình ảnh đó. Tình tứ lắm, thơ mộng lắm. Xách nước cho người yêu tắm gội trong rừng cọ với nắng gió trung du thì còn gì thơ mộng bằng. Để rồi:
“Em choàng ngoài chiếc áo nhung đen
Bên trong, chiếc áo chui màu đỏ
Đêm ấm áp, hoa hải đường tở mở
Hương thơm ngập cả căn phòng

Lá long não rơi trên cầu thang
Sao em ra ngoài hành lang, đứng, khóc?
Ôi, cái gác hai nửa khô nửa dột
Em còn nhớ không?” 
          Sao lại không nhớ cơ chứ? Chiều thì tắm gội cho nhau. Tối thì “hoa hải đường tở mở”, “lá long não rơi”, “hương thơm ngập cả căn phòng”, còn người ta thì nhớ cả áo ngoài, áo trong màu sắc gì của mình bảo sao lại không nhớ? Câu “Sao em ra ngoài hành lang, đứng, khóc?” anh dùng tới hai dấu phảy trong câu để tách ra vị trí, động thái của chị Lan Thanh chắc phải ẩn ý lắm. Thơ Nguyễn Đình Ảnh hình ảnh thì cứ tự nhiên, câu chữ thì lại chọn lọc, cân nhắc từng chỗ đặt dấu chấm, dấu phảy. Phải vì thế không mà sâu lắng đến vậy?
          Hầu hết những bài thơ của nhà thơ Nguyễn Đình Ảnh viết tặng chị Lan Thanh đều vào những năm đầu thập kỷ bảy mươi của thế kỷ trước. Có lẽ khi đó là anh chị đang thời kỳ yêu nhau. Hình như Thái Nguyên là nới nảy sinh và nuôi dưỡng tình yêu hai người. Chị giáo sinh, anh chiến sĩ pháo binh đúng cảnh trong bài hát “Hành khúc ngày và đêm”.
          Năm 1994, khi đã là vợ chồng và anh chị đã có con, thơ tình của anh về chị vẫn khắc khoải, vẫn đắm đuối yêu thương, đã phản ánh hơi thở cuộc sống, với những chiêm nghiệm, triết lý nhân sinh. Bài “Tâm sự với em về hạnh phúc” có những đoạn như thế này:
“Bữa cơm thường ngày, cá thịt ít hơn rau
Ta biết nhường cho nhau những miếng nào ngon nhất
Em tất tưởi vừa nuôi con vừa học
Mấy năm ở phố, ở rừng

Chiều quê hương, gà rúc rích lên chuồng
Em cặm cụi ngồi thổi cơm dưới bếp
Mưa. Khói ẩm, không thể bay lên được
Quấn quanh anh làm mắt cứ cay xè

Những hạt lạc đỏ và tròn xoe
Cứ thơm dần lên khi nồi rang bén lửa
Anh bế con ngồi bên bậc cửa
Nhìn em, nhìn mãi, thế thôi

Hạnh phúc quý giá của con người
Hóa ra lại là đơn giản thế
Tiếng gà gọi nhau và tiếng trẻ
Hơi mưa, mùi khói, căn nhà…”
          Quan niệm hạnh phúc, tình yêu từ những điều cụ thể, tưởng như giản đơn mà ý nghĩa quá chừng. Khung cảnh chiều quê, bữa cơm thường ngày, hạt lạc rang cháy thơm, tiếng gà gọi nhau, tiếng trẻ, hơi mưa, mùi khói, căn nhà…Chỉ thế thôi cũng đã là hạnh phúc. Bình dị, yên ả biết chừng nào.
          Còn rất nhiều bài thơ tình nữa của nhà thơ Nguyễn Đình Ảnh viết tặng chị Lan Thanh trong các tập thơ, trên các báo chí tôi không thể điểm hết được. Trên đây, tôi chỉ điểm qua một số bài trong các bài thơ anh ghi tặng chị, những bài thơ này đã ám ảnh tôi và tôi rất tâm đắc. Có nhiều bài tôi đã thuộc nằm lòng. Những bài thơ tuy anh không ghi tặng chị Lan Thanh nhưng tôi đọc cũng thấy thấp thoáng bóng chị rồi. Hình như hình ảnh người yêu, người vợ Lan Thanh của anh đã ngự trị, đã chiếm trọn trái tim anh, đã dâng trào cảm hứng trong thơ anh. Chị Lan Thanh - nàng Thơ của nhà thơ Nguyễn Đình Ảnh. Thật hạnh phúc biết bao khi có người yêu, người chồng như thế.
          Nhà thơ Nguyễn Đình Ảnh đã ra đi. Một nửa của chị Lan Thanh đã về cõi vĩnh hằng. Nhưng tình yêu và thi ca anh dành cho chị, cho chúng ta thì vẫn còn mãi mãi. Nối tiếp mạch nguồn ấy, nửa còn lại của anh - chị Lan Thanh lại tiếp tục cùng nàng Thơ đốt cháy lên ngọn lửa Tình yêu hai người từ ngày ấy. Và chị, thật xứng đáng với Tình yêu, với thi ca mà anh đã dành cho chị để mê mải làm thơ, để đằm mình trong thơ, để trở thành nhà thơ như anh. Lãng mạn lắm, hạnh phúc lắm khi cả vợ và chồng đều là thi sĩ, đều thắp sáng, đốt cháy lên ngọn lửa Tình yêu - ngọn lửa vĩnh hằng của nhân loại.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét