Thứ Tư, 17 tháng 4, 2013

NGÀY ẤY BÊN SÔNG (chương 6)



6

Vừa chập tối, Hoàn đã đạp xe đến nhà bà Thinh. Anh ăn mặc khá gọn gàng, đầu tóc chải bóng lộn, sực nước hoa thơm phức. Áo pupơluyn trắng sơ vin bỏ vào trong chiếc quần simili màu cỏ úa là thẳng cứng. Hoàn đi đôi dép nhựa tiền phong trắng nom thật oách. Cả làng Ngọc Chúc này hiếm có thanh niên nào đủ bộ áo cánh như thế. Không tối nào là Hoàn không có mặt ở nhà bà Thinh. Anh đến đó để lân la tán tỉnh Phương. Tối nay, ngoài lý do chủ yếu đó, Hoàn còn tổ chức cuộc họp chi đoàn để triển khai kế hoạch của xã về chuyển trạng thái sang thời chiến. Cho nên Hoàn đã đến sớm hơn mọi khi.
Nhà bà Thinh ở ngay bến sông, cạnh cây si già cao nhất nhì xóm. Một căn nhà gỗ ba gian lợp lá cọ khá xinh xắn. Tuy nhà chỉ có hai mẹ con nhưng nhà bà lúc nào cũng có khách, nhất là vào buổi tối, đặc biệt là lũ thanh niên. Họ đến đó vì nhà bà lúc nào cũng sạch sẽ, ngăn nắp, tính bà lại xởi lởi, hiếu khách. Hơn nữa, cô con gái của bà vừa xinh đẹp, nết na lại vừa duyên dáng hiền thảo. Bạn trai, bạn gái của con gái bà thường lấy nhà bà làm địa điểm hò hẹn nhau, trò chuyện tâm sự sau một ngày lao động vất vả. Nhà bà luôn đầy ắp tiếng cười và tự nhiên thành “trụ sở” của thanh niên làng Ngọc Chúc.
Bà Thinh đang lúi húi ở bếp đun nước. Bao giờ cũng thế, cứ biết có cuộc họp chi đoàn hay B dân quân là bà lại chuẩn bị nồi nước chè xanh rõ to. Tiếng củi nổ lách tách hắt ánh lửa ra sân sáng cả một vùng. Hoàn xăm xoe đi vào bếp hỏi thay cho lời chào:
- Bá Thinh ạ! Nhà mình ăn cơm chưa hả bá?
- Anh Hoàn à? Nhà tôi ăn rồi. Tối nay họp chi đoàn phải không? Tôi thấy con Phương nó bảo thế?
- Vâng ạ. Thế em Phương đâu rồi hả bá?
- Em nó đang tắm. Mời anh lên nhà xơi nước.
- Vâng ạ. Bá mặc cháu. Mà bá đang đun nước à? Để đấy cháu trông cho.
- Thôi, anh cứ kệ tôi. Quần áo thế mà vào bếp thì nhọ nhem trông làm sao được.
Bà Thinh vừa dun củi vào bếp vừa nhìn Hoàn nói. Hoàn hơi lúng túng, anh chống chế:
- Chẳng sao đâu bá ạ. Bẩn lại giặt, lo gì.
Như để chứng minh cho câu nói của mình, Hoàn loe xoe đến bên bếp lửa định ngồi xuống. Bà Thinh thấy thế vội gàn lại:
- Ấy ấy, mặc tôi. Anh lên xem ấm chén bàn ghế trên nhà đi. Nồi nước cũng sắp sôi rồi. Tôi đun ù tí là xong bây giờ mà.

NGÀY ẤY BÊN SÔNG (chương 5)



5
           
          Sáng nay, Huân và ông Chi, xã đội phó, cùng hai chiến sỹ Hiến, Tiến đi kiểm tra lại bến bãi chuẩn bị cho việc tăng cường tiếp nhận và bốc dỡ đạn dược. Làng Ngọc Chúc nằm dọc bờ sông Lô kéo dài đến cửa sông Chảy, suốt từ Bến Xưởng xuống đến Đền Mom cây cối um tùm rất thuận tiện cho việc chuyên chở và cất giấu vũ khí. Nguyên khu Cửa Đình đã có bốn cây đa to, rồi còn những cây si, cây sung khác cũng đều sum suê cành lá. Cây si ở sau Đền xanh ngắt quanh năm, tán lá rộng hàng trăm mét vuông, bóng trùm kín ngôi đền tha hồ cho dân làng ngồi nghỉ hóng gió sông Lô những trưa hè tới. Xung quanh làng, luỹ tre xanh bao bọc toả bóng ôm ấp những ngôi nhà mái rạ, mái tranh. Đứng từ xa nhìn tới hoặc từ trên cao nhìn xuống người ta thấy làng Ngọc Chúc như một khu rừng bên bờ ngã ba sông. Trên bến dưới thuyền, giọng hò, câu hát, tiếng những người giặt giũ í ới gọi nhau vang động cả dòng nước. Làng quê rợp bóng cây xanh, yên ả, thanh bình soi bóng xuống dòng sông Lô trong xanh lộng gió.
Huân nhìn mấy cây sung to cành lá trùm cả xuống sông nói với ông Chi:
          - Chỗ này cho xà lan ẩn náu khi có máy bay địch thì chỉ có nhất.
          - Thì hơn năm nay rồi đạn dược mình chất đầy ra đấy mà thắng máy bay Mỹ nó có phát hiện ra đâu.
          Ông Chi đưa tay chỉ ra đống hòm đạn chất chềnh ềnh cao như cái nhà giữa bãi soi nói với Huân. Huân nhìn vậy thoáng nhíu mày có vẻ lo lo. Sao lại chủ quan thế không biết? 

NGÀY ẤY BÊN SÔNG (chương 4)



4

          Trung đội dân quân làng Ngọc Chúc do Phương làm B trưởng đa số là thanh nữ và một vài ông trung niên. Cánh thanh niên đều đi bộ đội và ra mặt trận hết. Mấy năm nay trai làng thi nhau nhập ngũ. Làng bây giờ còn lại toàn đàn bà và trẻ em. Cho nên mọi việc lớn bé trong làng đều do phụ nữ và một số đàn ông trung niên đảm nhận. Mấy tay thanh niên còn lại ở làng thì một là đối tượng miễn hoãn nghĩa vụ quân sự, hai là có tật bệnh gì đấy mà quân đội không thể tuyển được. Một số rất ít khác thì vì những lý do “tế nhị” mà qua các đợt tuyển quân họ vẫn ở nhà. Tất cả số này là của “quý hiếm” trong làng. Có việc gì nặng nhọc là người ta vẫn gọi đến họ. Dù sao thì “yếu trâu vẫn còn hơn khoẻ bò”.
          Phương là con liệt sỹ. Bố cô đã hy sinh ở Điện biên năm 1954 để lại người vợ trẻ và một đứa con gái. Mẹ cô đứng vậy nuôi con từ lúc Gái mới mười một tuổi. Vào lứa tuổi dậy thì, Phương càng phô bày vẻ đẹp. Phương không đẹp rực rỡ, kiêu sa như một số cô gái khác, cô đẹp một cách chân quê, dịu dàng, thầm kín. Dáng người đậm đà. Gương mặt trái xoan. Tuy lam lũ sông nước, ruộng đồng nhưng nước da của Phương bao giờ cũng trắng hồng. Do mồ côi bố từ nhỏ nên Phương vừa có sự cứng rắn như một đấng nam nhi, mặt khác ở cô cũng có cả sự dịu dàng duyên dáng rất nữ tính. Nếu bị kẻ nào sàm sỡ, trêu chọc Phương sẵn sàng lên lớp cho người đó biết mặt. Ngược lại, khi ai đó có đùa bỡn một câu bóng gió xa xôi thì Phương e thẹn cúi đầu, đôi má ửng đỏ.
Năm nay Phương đã hai mươi hai, cái tuổi khá “cứng” của đời người con gái làng Ngọc Chúc. Xinh đẹp, giỏi giang như vậy mà tại sao Phương vẫn chưa đi lấy chồng? Hơn nữa, Phương hoạt động xã hội rất sôi nổi? Phải nói cô rất có khiếu về lĩnh vực này. Chả thế mà cô được đảng uỷ, uỷ ban xã giao cho cái chức B trưởng dân quân một B đầu sóng ngọn gió, trong khi đó có đến ba, bốn thanh niên trai tráng khoẻ mạnh khác ở nhà. Nhiều người đến làng, nhất là mấy anh bộ đội trên nhà máy Z vẫn thường đặt câu hỏi như thế về Phương. 

NGÀY ẤY BÊN SÔNG (chương 3)



3

          Cuộc họp đột xuất của ban chỉ huy quân sự xã tối nay được tổ chức ngay tại nhà bà Sự. Người đầu tiên đến là ông Thạc. Ông dựng chiếc xe đạp “Stec ling” đầu vênh của mình ngay trước sân rồi vào nhà. Ông Hiếu rót nước mời ông Thạc:
- Có việc gì quan trọng mà họp gấp thế hả ông xã đội?
- Vâng. Có việc quan trọng thì mới họp chứ. Gấp lắm ông ạ. Công việc thời gian tới sẽ bù đầu cho mà xem. À, thế bảo có mấy chú bộ đội về ở nhà mình đã về chưa hả ông?
- Về rồi. Các chú ấy đang tắm ngoài giếng ấy.
- May quá. Trên thông báo là sẽ có người bổ sung, thế mà đúng thật. Quân đội có khác. Tác phong ghê.
Ông Thạc móc túi lấy bao thuốc lá. Ông nghiện thuốc lá nặng. Ông lấy ra một điếu rồi bẻ nó làm đôi. Đút nửa điếu vào bao, còn nửa điếu kia ông châm lửa hút. Thuốc lá hiếm, sổ nghiện ông hút cũng không đủ phải mua thêm thuốc ngoài. Bình quân mỗi ngày ông Thạc phải hút hết một bao Trường Sơn. Loại Trường Sơn đen thôi. Mỗi lần hút ông chỉ hút có nửa điếu. Thèm lắm nhưng cũng phải chia nó ra cho đều trong ngày. Hai đầu ngón tay (ngón cái và ngón trỏ) của ông cháy xém, vàng khè. Nhìn ông rít thuốc đến người không nghiện cũng phải phát thèm, nhất là khi điếu thuốc chỉ còn có một đoạn cháy đỏ đến đầu ngón tay. Ông bóp hai đầu ngón tay mím điếu thuốc lại bẹp dí rồi cho nó vào miệng, roe môi ra và rít lấy rít để. Hai má ông tóp lại. Miệng ông vẩu ra. Điếu thuốc đỏ lừ đến nỗi không còn gì để cháy thêm nữa thì ông mới vứt bỏ nó. Thậm chí có bận, ông còn cố tình lấy giấy cuốn nối thêm vào điếu thuốc để rít cho bằng hết thuốc mới thôi. Ông Thạc có kiểu thả khói thuốc lá rất điệu nghệ, những chữ o vòng trên vòng dưới cuốn vào nhau bay lên lượn lờ như rồng múa. Hai mắt ông lờ đờ nhìn theo làn khói bay một cách khoan khoái. Cánh thanh niên một số đứa ti toe học theo nhưng không được. 

NGÀY ẤY BÊN SÔNG (chương 2)



2

- Huân, cháu chạy lên làng Đám xem việc chuẩn bị trận địa thuỷ lôi giả của du kích xã đến đâu rồi về báo cáo ngay cho chú nhé. Gặp anh Diệm chủ tịch mặt trận Việt Minh ấy, nghe chưa?
Ông Doãn Tuế ra lệnh cho Huân. Huân đứng nghiêm, một tay cậu đưa lên ngang đầu chào theo kiểu nhà binh:
- Báo cáo thủ trưởng, rõ!
Ông Doãn Tuế cười, xoa đầu Huân:
- Ra dáng gớm nhỉ? Nhanh nhanh về báo cáo cho chú biết ngay nghe.
Huân ba chân bốn cẳng chạy ù đi. Cậu ta vui lắm. Từ ngày theo các chú bộ đội, giữ chân liên lạc đến đợt này là Huân vui nhất. Huân vui vì được trực tiếp tham gia chiến đấu trả thù cho gia đình, cho làng bản. Lòng căm thù giặc đến cháy bỏng của cậu sắp được biến thành hiện thực. Nghĩ đến cái ngày giặc Pháp đốt làng, giết hết những người thân của Huân mà Huân cảm thấy uất nghẹn lên tận cổ.
Hôm ấy cũng như bao ngày khác, cái bản nhỏ của Huân nằm cheo leo trên sườn núi vẫn bình yên đón một ngày mới. Khi Huân chuẩn bị lên rừng thả trâu thì bất ngờ  lù lù một đoàn xe tăng thiết giáp của giặc kéo lên. Chúng chia quân lùng sục bắt bớ dồn tất cả những người trong bản ra tập trung tại gốc si giữa làng. Trẻ già, trai gái một xâu một xốc mấy chục con người sợ hãi bước đi trước mũi súng kẻ thù. Chúng tra khảo tìm kiếm cán bộ cách mạng. Không ai hé răng nửa lời. Bọn chúng điên tiết đốt phá hơn chục ngôi nhà trong bản. Vẫn không ai nhúc nhích. Cuối cùng, lũ chó săn ấy đã điên cuồng nổ súng vào đoàn người. Bố, mẹ, anh em, người thân, hàng xóm của Huân trúng đạn ngã xuống. Huân cũng bị một viên đạn vào đùi gục xuống trong vòng tay của mẹ. Huân mê man bất tỉnh. Mãi đến đêm, Huân mới tỉnh lại. Cậu ngơ ngác giữa các chú bộ đội xung quanh. “Sống rồi!”. Tiếng ai đó cất lên. Về sau, Huân được biết bản của cậu đã bị giặc Pháp đốt sạch, giết sạch, may mà cậu được mẹ chở che nên vẫn còn sống sót. Và Huân, cậu bé mười một tuổi ấy đã mất hết cha mẹ, người thân, mất cả bản làng yêu dấu bước chân vào bộ đội đi kháng chiến với một mối thù giặc hơn bất cứ một người nào. Huân được các chú bộ đội cưu mang, dạy dỗ quý như con, như em của họ. Lần này theo đơn vị về Tiên Phong triển khai kế hoạch đánh Pháp, chặn bước chân của chúng lên chiến khu Việt Bắc, Huân cảm thấy hăng hái vô cùng. Phải đem hết sức mình vào trận đánh này để trả thù cho cha mẹ, cho quê hương. Huân không nề hà một việc gì khi chỉ huy đơn vị giao cho.

NGÀY ẤY BÊN SÔNG (Chương 1)



1

          Nhận được lệnh điều động của cấp trên, Huân cùng Hiến, Tiến hăm hở lên đường. Ba người súng ống, ba lô, quân tư trang nghiêm chỉnh từ Bắc Thái vượt đèo Khế, qua Tuyên Quang, theo quốc lộ 2 về Đoan Hùng. Kể từ cái hôm đơn vị Huân tháo pháo rút khỏi trận địa bên bờ sông Lô đến giờ thấm thoắt đã hai mươi năm. Hai mươi năm biết bao nhiêu thay đổi. Huân từ một cậu bé liên lạc loắt choắt nay đã là trung uý sỹ quan quân đội nhân dân Việt Nam. Ba mươi mốt tuổi rồi còn gì. Vừa ra khỏi cuộc kháng chiến chống Pháp chưa được bao năm, dân tộc ta lại bước vào cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Ở miền Bắc còn được mấy năm hoà bình nhưng miền Nam thì chưa một ngày ngơi tiếng súng. Chiến tranh nối tiếp chiến tranh, Huân chưa kịp nghỉ ngơi, chưa kịp chuyển ngành thì anh được quân đội giữ lại. Tốt nghiệp trường sỹ quan anh lại tiếp tục theo con đường binh nghiệp. Hôm nay, về nơi sông xưa bến cũ lòng Huân cảm thấy hồi hộp vô cùng.
Bấy giờ là mùa hạ năm 1967. Giặc Mỹ đang mở rộng chiến tranh leo thang đánh phá miền Bắc. Mục tiêu của chúng là làm suy yếu hậu phương của ta, cắt đứt các tuyến đường giao thông tiếp tế cho miền Nam. Cho nên cầu, phà, đường bộ, đường sắt, cả đường sông nữa đều là mục tiêu đánh phá hàng đầu của chúng.
          Đoan Hùng là một huyện nằm ở phía bắc của tỉnh Phú Thọ, là điểm nút giao thông quan trọng cả đường sông và đường bộ nối liền thủ đô và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ với các tỉnh trung du, miền núi Việt Bắc, Tây Bắc. Về đường bộ có quốc lộ 70 từ Lào Cai về gặp quốc lộ số 2 tại trung tâm của huyện. Về đường sông, Đoan Hùng là nơi gặp gỡ của hai con sông: sông Lô và sông Chảy. Trên địa bàn huyện có nhiều nhà máy và đơn vị quân đội đóng quân. Hơn nữa, tiếp giáp với huyện về phía bắc có nhà máy  Z2 của quân đội chuyên sản xuất và kiểm định vũ khí. Cho nên, Đoan Hùng trở thành mục tiêu đánh phá của máy bay Mỹ. Quốc lộ 2, bến phà, cầu treo không ngày nào là không bị chúng oanh tạc, ném bom. Việc vận chuyển vũ khí về nhà máy Z2 để kiểm định và rồi từ đó lại toả ra các chiến trường theo đường bộ gặp không ít khó khăn. Do đó, quân khu đã quyết định lấy sông Lô làm con đường chở đạn dược vũ khí. Vận chuyển đường sông vừa rẻ, vừa được nhiều lại an toàn hơn đường bộ. Xã Chí Đám nằm bên bờ ngã ba sông đã được chọn để làm nơi tập kết vũ khí. Hơn một năm nay, kế hoạch trung chuyển này được thực hiện khá tốt đẹp. Hàng ngàn tấn đạn dược đã được người dân Tiên Phong và các xã lân cận vận chuyển bốc dỡ an toàn, bảo đảm bí mật. Đây là kho trung chuyển ngoài trời lớn nhất của quân khu. Huân được giao nhiệm vụ về tăng cường cho cái kho đặc biệt đó. Một nhiệm vụ vô cùng mới mẻ và nặng nề đối với anh.

Thứ Ba, 16 tháng 4, 2013

MƯA RỬA ĐỀN



 
        Hà đang chăm chú đọc lại bản kiểm kê cổ vật thì chuông điện thoại reo vang. Cô vội nhấc ống nghe. “A lô! Xin lỗi. Có phải chị là Hà không ạ?”. “Vâng. Tôi đây. Ai ở đầu dây đó?”. Hà khiêm tốn hỏi lại. “Ô! Chào người đẹp! Không nhận ra nhau ư?”. Tiếng người đàn ông đầu dây reo lên. Hà lúng túng: “Dạ. Xin lỗi. Ai đó ạ?”. “Người quen đây. Bạn cố thử đoán xem nào?”. Im lặng. Quái, giọng của ai mà lạ thế cơ chứ? Hà chưa nghe thấy bao giờ. “Vẫn chưa nhận ra nhau ư? Có phải Hà bảo tàng không đấy?”. Tiếng người đầu dây bên kia thúc giục. Hà giật thót người. Đúng là họ gọi mình rồi. Cuối cùng cô đành thú thật: “Dạ. Em không đoán được ai cả. Anh là ai đó?”. Có tiếng cười vang trong ống nghe. “Sơn đây! “Sơn kíp lê” đây! Nhận ra chưa?”. Hà reo lên: “Ôi! Anh Sơn! Làm em cứ đoán mò mãi. Anh đang ở đâu đấy?”. “Hà Nội! Nhớ em quá, điện lên nói chuyện cho vui”. “Thôi anh đừng tán dóc nữa. Có việc gì vậy anh?”. “Thế cứ có việc mới gọi điện cho em được chắc?”. Giọng Sơn có vẻ hờn dỗi. “Không. Mọi lần anh toàn nhắn tin, hôm nay gọi điện, thấy lạ em mới hỏi thế. Chưa chi đã tự ái rồi”. Hà lúng túng thanh minh. “Đùa vậy thôi. Có việc đấy Hà ạ. Đầu tháng ba, trước Hội một tuần anh sẽ lên chỗ em để xin ít tài liệu về sự tích mưa rửa đền. Em giúp anh nhé”. Tiếng Sơn nghiêm túc trở lại. Hà vội đáp: “Tất nhiên rồi! Anh lên nhé. Lên ở cho qua hết Hội luôn thể, anh sẽ được chứng kiến cảnh mưa rửa đền. Tha hồ cho anh viết. Bằng chán vạn những lời em nói ấy chứ”. 

Thứ Ba, 9 tháng 4, 2013

QUÁN XƯA



 
Tự nhiên nhớ những ngày "đi hoang" quá
Em bây giờ ở đâu?
Phương trời xa lạ
Mỏi mắt chờ tin nhau...
Quán cũ còn đây
Sữa chua nếp cẩm ly của em vẫn còn nguyên đó
Đá đã tan
câu thơ còn bỏ ngỏ
Ly cà phê của tôi
cạn rồi
Đêm
cũng cạn rồi
Nỗi nhớ thì gần mà em quá xa xôi
Lang thang online cả làng Facebook thức
Nhớ tới ngày xưa, chực khóc
Nhà nhà đèn xanh
Ngổn ngang lời vàng ý ngọc
Giọt giọt cà phê rơi
Đắng ngắt
không
lời
Ly vẫn đủ đôi
Chỉ một mình tôi 
                              Trơ khấc...

Thứ Hai, 8 tháng 4, 2013

TÌM ANH NGÀY GIỖ TỔ (Phần 1)



 
       Đã mấy ngày đêm rong ruổi trên đường, chuyến xe của Vân hành hương về Đất Tổ vẫn náo nức rộn ràng. Đây là lần đầu tiên trong đời Vân được ra Bắc. Từ đất mũi Cà Mau, tổ hưu của chị thuê chiếc ôtô 24 chỗ ngồi nhằm hướng bắc thẳng tiến. Chiếc xe chạy băng băng. Ai cũng mong cho chóng đến Phú Thọ để dự Hội Đền Hùng. Được viếng mộ Tổ là mơ ước của Vân và của mỗi người trong đoàn. Thực ra, ở Vân còn chất chứa một nỗi niềm khác nữa. Đó là trong chuyến đi này, Vân mong tìm gặp lại Hải, người bạn chiến đấu, người yêu đầu đời của Vân.
          Trên xe, mọi người ríu ran chuyện trò. Phong cảnh thanh bình của đất nước đã làm cho họ như trẻ lại. Cứ mỗi lần xe qua một địa danh chiến đấu năm xưa là mọi người lại xôn xao nhớ về kỷ niệm cũ. Đây là nơi tiểu đội của ông Quang dầm mình cả tháng trời dưới sình lầy để chờ giặc đến. Kia là bãi cát trắng dài ven biển nơi bà Hoan giả làm người buôn cá để mang mìn cho đội đặc nhiệm đánh tàu chiến Mỹ. Có nhiều nơi họ không nhận ra được nữa vì phong cảnh đã khác xưa nhiều quá. Nhà máy mọc lên. Phố xá tưng bừng. Người xe tấp nập. Chẳng còn đâu là hàng rào dây thép gai hay đồn bốt, xe tăng của Mỹ nguỵ nữa. Tất cả đã vùi sâu vào dĩ vãng. Quang cảnh ngày xưa chỉ còn lờ mờ hiện lên trong ký ức của họ.
Qua đèo Hải Vân, xe dừng lại ít phút trên đỉnh đèo. Gió từ dưới biển thổi lên lồng lộng. Mọi người say sưa ngắm nhìn trời đất bao la. Trời xanh, biển xanh như hoà làm một. Ai cũng có một cảm giác bềnh bồng khó tả. Chiếc loa trong xe vang lên bài hát “Đường chúng ta đi” sao mà hay đến thế. Bất giác Vân cũng khe khẽ hát theo. Chị mơ màng nhớ về Hải, tưởng tượng ra cái giây phút gặp Hải. Chắc Hải sẽ ngỡ ngàng lắm. 

Thứ Hai, 1 tháng 4, 2013

SẤM ĐẦU MÙA



 
         Hôm nay, đang giữa buổi chiều mà trời bỗng nhiên tối sầm lại. Mây đen vần vũ kín đặc bầu trời. Đột nhiên lạnh. Khí lạnh ở đâu đó lan tới khiến tôi khẽ rùng mình. Mấy hôm trước, ngỡ tưởng qua được mùa rét rồi, nắng nồm đã lên rồi, chăn đệm, áo ấm cũng đã cất rồi, thế mà hôm nay lại rét ngay được mới lạ chứ. Đúng là ông trời. Nắng mưa cứ như trở bàn tay. Vẫn biết là tháng ba sẽ có rét nàng Bân, ấy vậy mà vẫn có cảm giác khá bất ngờ.
          Rồi gió nổi lên. Và mưa rơi lộp bộp. Điện cũng tự nhiên tắt phụt. Cả làng tối om om. May mà nhà tôi vừa ăn cơm tối xong. Chợt có tiếng ào ào ràn rạt vọng tới. Như có ai chạy. Như có ai đuổi. Đông lắm. Rồi mưa. Mưa như trút nước. Chớp lóe sáng soi rõ một sân nước, một trời nước. Trắng lấp loáng. Và sấm. Sấm nổ rền trời. Cả nhà tôi ai cũng ngỡ ngàng khi nghe tiếng sấm. Lâu lắm rồi mới lại có chớp, có sấm như thế. Tiếng sấm ùng oàng nối nhau. Tiếng nọ chưa dứt thì lại đến tiếng kia tiếp theo. Sấm sau đè lên, nối tiếp sấm trước. Chúng như đuổi nhau trên trời. Bầu trời náo động. Sấm nhỏ, sấm to tranh nhau thể hiện. Đang rét vậy mà nghe tiếng sấm, người tôi bỗng ấm hẳn lại. Lòng tôi tự nhiên vui lên. Háo hức lắm. Giá như ban ngày, giá như còn trẻ thì tôi sẽ chạy ào ra sân đầm mình trong mưa, giơ tay lên trời mà reo hò, mà nhảy cẫng lên để đón sấm đầu mùa.